Khi bạn thực thi
các kế hoạch phát triển kinh doanh hay huy động vốn đầu tư, sẽ có những sai sót
cần tránh để không phải đi đến kết cục đặt “dấu chấm hết” cho công ty của mình.
Tất cả những sai lầm pháp lý được nhắc đến sau đây đều thực sự là những sai lầm“chết
người”.
1. Sai
sót về năng lực giao kết hợp đồng:
Tức là các bên tưởng rằng mình có thẩm quyền ký kết hợp đồng nhưng thực
ra có năng lực giao kết .
2.
Sai sót về người đại diện ký hợp đồng: Các lỗi thông thường là người không phải là người đại diện theo
pháp luật của công ty nhưng vấn đứng ra thay mặt công ty ký các hợp đồng mà
không có văn bản ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty. Tuy
nhiên, có một sai sót mà ít ai để ý. Đó là khi giao kết các hợp đồng có giá trị
lớn, nhất là các hợp đồng đầu tư (mua cổ phần của công ty khác,…), các bên cứ
nghĩ rằng người đại diện theo pháp luật của công ty ký là hợp đồng có hiệu lực. Ví dụ như khi thành viên góp vốn của công ty
cổ phần đứng ra ký kết hợp đồng thì hợp đồng đó không có giá trị .
3.
Nội dung của hợp đồng trái pháp luật: Dạng sai sót này là phổ biến nhất, bởi vì, các bên nhiều khi
không nắm được hết các qui định của luật điều chỉnh. Ví dụ, trong thỏa ước lao
động thể của NLĐ và NSDLĐ ,NSDLĐ quy định nội quy của thỏa ước nếu NLĐ vi phạm
nghĩa vụ hoàn thành công việc sẽ phạt đứng nắng cả ngày .Đây là nội dung trái với
quy định của pháp luật.
4.
Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng: Nhiều
hợp đồng bị mắc lỗi kỹ thuật soạn, có thể là cố ý cũng có thể là vô ý, tùy từng
hoàn cảnh. Các lỗi kỹ thuật phổ biến là:
-
Ngôn ngữ sử dụng không rõ ràng, trong sáng và nhất quán, sử dụng những câu
không rõ nghĩa hoặc gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.
-
Sử dụng sai thuật ngữ: ví dụ rất nhiều hợp đồng sử dụng từ “đặt cọc” tương
đương với từ “tạm ứng trước”. Về mặt kinh doanh thì có thể coi là như vậy nhưng
về mặt pháp lý thì khác nhau hoàn toàn. Nếu tạm ứng trước mà các bên không có
qui định gì thêm và khi không thể giao kết hay thực hiện được hợp đồng thì các
bên sẽ hoàn trả lại tiền tạm ứng trước và hòa cả làng…Nhưng nếu là “đặt cọc”
thì coi chừng. Bên đặt cọc mà có lỗi dẫn đến không giao kết hoặc thực hiện được
hợp đồng sẽ mất số tiền đặt cọc hoặc nếu do lỗi của bên nhận đặt cọc thì sẽ bị
phạt hai hoặc nhiều lần tiền đặt cọc tùy theo thỏa thuận của các bên.
- Các nội dung, điều khoản trong hợp đồng mẫu thuẫn nhau: Vấn đề
này rất dễ xảy ra với các hợp đồng lớn, đồ sộ do nhiều bộ phận soạn thảo.
- Không tương thích hóa nội dung của hợp đồng chuẩn với luật áp dụng: Các bên
thường sử dụng mẫu hợp đồng chuẩn quốc tế trong các giao dịch lớn, hợp đồng
thuê tài chính,…tuy nhiên nhiều khi các bên cho rằng hợp đồng mẫu đã quá chuẩn
mực không cần thay đổi gì thêm mà quên đi một kỹ thuật quan trọng đó là chuyển
hóa nó thành một hợp đồng có hiệu lực và tương thích với luật áp dụng.
- Hợp đồng là văn kiện ghi nhận và xác lập những cam kết, thỏa thuận,
quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên, đồng thời nó cũng là một văn bản
nêu lên những phương án giải quyết những tình huống trong tương lai. Do vậy đòi
hỏi các bên phải có khả năng dự đoán những sự kiện có thể xẩy ra để xử lý.
Nhưng nhiều hợp đồng không đảm bảo được chức năng này.
- Hợp đồng quá sơ sài, đại khái không có giá trị trong việc giải quyết các vướng
mắc, tranh chấp. Nhiều hợp đồng có giá trị rất lớn nhưng chỉ vọn vẹn dăm câu,
ba từ, chỉ đủ để biết đối tượng hợp đồng là gì, giá cả là bao nhiêu??? Những hợp
đồng này thường được ký kết trên cơ sở sự tin cậy lẫn nhau. Tuy nhiên nếu xảy
ra bất đồng, thì sẽ gây khó khăn cho các bên trong việc vận dụng để giải quyết.
5. Bỏ qua một số thủ tục bắt buộc: Một số hợp đồng muốn có hiệu lực thì phải được thông qua một số
thủ tục luật định như công chứng, đăng ký, phê chuẩn tại và/ hoặc bởi cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Nhưng các bên lại bỏ qua các thủ tục quan trọng này.
Cảm ơn bài viết hữu ích của bạn.
Trả lờiXóahoc seo